Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Đất và người Thái Bình » Tỏa sáng tư tưởng cụ Bảng Đôn

Đất và người Thái Bình

Tỏa sáng tư tưởng cụ Bảng Đôn

Ngày đăng: 25/07/2016 In trang
Cổ nhân có câu: “Nhân bất học bất tri lý” (Người không học tất không biết lẽ đời). Với Lê Quý Đôn, đọc và học theo sách thánh hiền không bao giờ ngơi nghỉ và mệt mỏi.
Từ đường danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn. Ảnh: QUANG VIỆN

 

18 tuổi thi Hương đỗ đầu; 27 tuổi thi Hội đỗ đầu; thi Đình đỗ Bảng nhãn nhưng như thế vẫn chưa đủ. Cho dù vốn thông minh và có một trí nhớ siêu phàm, Lê Quý Đôn vẫn dấn thân vào thế sự bể dâu, đắm mình trong thực tiễn cuộc sống: chân đi, mắt nhìn, tai lắng nghe, óc suy xét, tay bút ghi chép để lại cho đời (Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ v.v… là minh chứng). Di sản văn hóa tinh thần ông để lại là cả một bách khoa toàn thư. Lê Quý Đôn viết hơn 50 bộ sách, gồm hàng trăm quyển ở nhiều lĩnh vực: văn thơ, lịch sử, địa lý, thiên văn, triết học, y học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học. Thấm nhuần tư tưởng nho gia, ông nhập thế, hành sự giúp đời, giúp người, là hiện thân, biểu tượng sống động của sự kết hợp nhuần nhuyễn học và hành. Chả thế mà lịch sử coi Lê Quý Đôn là cây đại thụ thế kỷ XVIII, là nhà đại trí thức trong suốt chiều dài chế độ phong kiến Việt Nam.

 

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tư tưởng của Lê Quý Đôn vẫn đang song hành cùng dân tộc. Càng vào sâu nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, Đảng ta xác định phải xây dựng một xã hội học tập, học suốt đời để làm suốt đời. Ngày hôm nay, chúng ta ngộ ra điều người xưa đã nói:

 

Phi nông bất ổn

Phi công bất phú

Phi thương bất hoạt

Phi trí bất hưng.

 

Các chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ Trường Sa tự hào vì cụ Bảng Đôn đã ghi chép lại việc ta thể hiện quyền quản lý trong thực tế Hoàng Sa, Trường Sa như thế nào. Cụ cũng đã nêu lên tư tưởng pháp trị mà nay chúng ta đang phấn đấu xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

 

 

Trường THPT Lê Quý Đôn (thành phố Thái Bình). Ảnh: Quang Viện.

 

Khi dâng sớ xin thiết định pháp chế, hoài bão của Lê Quý Đôn là “thực thi những cải cách, nhất là thiết định pháp chế nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh, đưa xã hội Lê - Trịnh đến thái bình thịnh trị” (Giáo sư Văn Tân). Còn Giáo sư Cao Xuân Huy thì cho biết: Trong hai năm du lãm và quan sát ở Trung Quốc, Lê Quý Đôn đã thấy nhiều, nghĩ nhiều và đã nâng tư tưởng của mình thành hệ thống. Về chính trị, Lê Quý Đôn muốn tổng hợp thuyết đức trị của nho gia và thuyết pháp trị của pháp gia mà nặng về pháp gia để bổ cứu cho cái tệ nhân tuần thủ cựu đời bấy giờ. Bài sớ nói rằng: …Tôi nghe rằng trị nước không thể cậy vào điều không có hoãn cấp xảy ra mà phải cậy vào điều có cái gì (sẵn) để mà ứng phó với hoãn cấp… Nhưng giờ đây, cái để mà ứng phó với hoãn cấp là gì, hay là (chỉ) thu thập quân gia trong nước mà tập trung lại ở kinh đô? Hay chỉ gom góp của cải ở trong nước mà tích tụ lại ở trong kho tàng? Bỏ mất lòng dân không phải là cái đạo xếp yên mối loạn cũng không phải là nhân tuần và nói suông vậy. Con người sinh ra khí bẩm không đều, có kẻ lương thinh, có người hung ngạch, có người chỉ muốn yên phận làm ăn, lại có kẻ thì du thủ, vô lại. Vả chăng cứu tế đủ cho mọi người, đó là một điều mà vua Nghiêu vua Thuấn còn không làm nổi thì làm sao muốn khiến cho người người đều sống theo sở thích của mình. Cho nên, đấng anh quân phải đặt ra pháp chế để nắm vững quốc gia mà dùng cái nguyên lý “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” của Khổng Tử xen vào trong đó. Như  thế mới sửa chữa nhân tâm một nước, làm  thành phong tục trăm đời được: kẻ làm dân thì vì phải kính nể pháp luật mà có chí hướng nhất định, tuy hoặc có biến động bên ngoài mà trong cõi cũng không đến nỗi phân ly và phản loạn. Gọi là pháp chế cũng chỉ là thiết lập quan chức, phân định văn võ, lập pháp thi lệnh một cách nghiêm cẩn, quy định học pháp, giáo pháp, làm thế nào cho ở bên trong thì triều đình, ở bên ngoài thì phương triển - giao lưu chằng chịt với nhau như một thân thể, như một hệ thống, mạch lạc được lưu thông, không có trở ngại”. (Vân đài loại ngữ, trang 10 - 11; 13 - 14 Nhà xuất bản Văn hóa - Hà Nội 1961).

 

Trên mảnh đất quê hương cụ Bảng Đôn đã làm nên một huyện Hưng Hà nông thôn mới đầu tiên của Thái Bình. Không chỉ có nhiều tỷ phú, đã có con cháu quê hương Lê Quý Đôn mang huy chương vàng Olimpic Toán quốc tế góp phần làm rạng rỡ truyền thống văn hiến, hiếu học của ông cha.

 

Nguyễn Bá Côn

(Thành phố Thái Bình)

 
Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

 

 

Tin được quan tâm

Back To Top