Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 3978-4399, T)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 3978-4399, T)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên; Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

3978. Thượng Ngạn

Đình th. Thượng Ngạn, x. Văn Lang, h. Hưng Hà. Khởi công từ thời Lê, đại tu khoảng hoàng triều Bảo Đại (1926-1945), tọa lạc trên khuôn viên rừng cây cổ thụ, rộng 1.000 m 2 , phía trước có ao hồ thoáng, rộng… Kiến trúc kiểu chữ "công". Bái đình rộng 5 gian. Tòa ống muống 2 gian. Hậu cung 3 gian. Đồ thờ tự đáng chú ý là bộ tam sự đúc bằng đồng, 3 cỗ ngai rồng thời Nguyễn và bộ bát bửu chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng… L. Thượng Ngạn thờ các vị phúc thần thời Hùng Vương là Đinh Chiêu Công, Đinh Trấn Công và 3 người em (quê Hải Dương) là: Uy Công, Mẫn Công, Thông Công. Các ông có công phù tá Hùng Vương chinh phạt 16 châu, dẹp được "lục man"… được vua lấy đất "Thập khu" (trong đó có trang Thượng Ngạn) làm thực ấp. Khi mất được vua cho xây miếu, giao dân Thượng Ngạn phụng sự…

Trong KCCP, đình Thượng Ngạn là cơ sở của Sư đoàn 320 và cơ quan của tỉnh, huyện, xã… Trong chiến dịch chống càn tháng 4-1954, Trung đoàn 64 từ đình Thượng Ngạn cùng quân dân các làng Đót,  Ngân, Chuộn (đều thuộc x. Văn Lang) 9 lần đẩy lui các mũi tiến công của địch, tiêu diệt và làm thương vong gần 100 lính Pháp và quân đội Bảo hoàng. Được xếp hạng DTLS và DTKTNT cấp tỉnh (2003).

3979. Thượng Phán 上 泮

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Đồng Chân, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Đồng Trực, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hoàng Hải, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Hoàng, h. Quỳnh Phụ. Dân số 191 người (1927). Địa bạ x. Thượng Phán : 12 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 81 mẫu 1 sào 14 thước 6 tấc 7 phân; trong đó công điền 65 mẫu 11 thước 6 tấc 7 phân (không có tư điền); thổ trạch viên trì 12 mẫu 4 sào 9 thước 5 tấc. Tục lệ x. Thượng Phán: 10 tr., gồm 20 lệ, lập ngày 10 tháng 2 năm Tự Đức 11 (1858). Thần tích x. Thượng Phán : 24 tr., gồm sự tích Thiên Bồng (Thiên Bồng Đại Vương) thời Lý; và sự tích Minh Công (Phò mã Tả Quan Đại Vương) cùng Công chúa triều Trần (không rõ tên) (Đức Chủ Trần triều Đại Vương), do Nguyễn Bính soạn năm 1572. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 5 tr., 3 tr. chữ Hán; 10 đạo sắc phong; thần: Phù Mã Tả Quan, Trần Triều Công chúa, Thiên Bồng.

3980. Thượng Phú 上 富

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thượng Tầm, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Thượng Tầm, p. Thái Ninh. Trong KCCP thuộc x. Hội Phú, h. Đông Quan. Nay thuộc x. Đông Phong, h. Đông Hưng. Dân số 1481 người (1927). Địa bạ x. Thượng Phú : 24 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 534 mẫu 7 sào 10 thước 2 tấc; trong đó công điền 113 mẫu 1 sào 1 thước 3 tấc; tư điền 339 mẫu 3 sào 1 thước 5 tấc; thổ trạch viên trì 32 mẫu 1 sào 12 thước 6 tấc. Tục lệ x. Thượng Phú : 24tr., gồm 7 lệ của thôn Yên Khánh 安 慶 lập ngày 3 tháng 5 năm Tự Đức 18 (1865); 13 ước của thôn Thượng Thọ 上 壽 lập ngày 12 tháng 4 năm Thành Thái 19 (1907); 12 ước của thôn Đông 東 lập ngày 24 tháng 9 năm Đồng Khánh 2 (1887). Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 3 tr., 1 tr. chữ Hán; 1 đạo sắc phong; 1 danh mục đạo sắc phong; thần Tuấn Lương Hùng Tế Quốc.

3981. Thượng Phú

Đình, th. Thượng Phú, x. Đông Phong, h. Đông Hưng. Cuối tk. XVIII, Tổng Huệ (người làng) cúng cho làng 4 sào ruộng xây một ngôi đình lợp tranh lá… Sau bị bão đổ. Năm Bảo Đại thứ nhất (1926), xây đình mới, rộng 5 gian và còn lại đến ngày nay. Thờ Tuấn Lương Hùng Quốc Tế Uy - không rõ thần tích. Tượng Pháp còn 3 pho, đồ thờ cúng không nhiều, quý nhất là 4 cỗ ngai rồng thời Nguyễn, 3 cỗ long đình và bộ ngũ sự bằng đồng.

Năm 1928, đình là cơ sở hội họp của các đồng chí Nguyễn Văn Năng, Phạm Quang Lịch, là nơi cất giấu tài liệu của Tỉnh ủy qua các thời kỳ. Thời kỳ 1937-1939, là địa điểm truyền bá và dạy chữ Quốc ngữ (có 25 học viên), và nhiều cuộc đấu tranh của hội Tương tế, ái hữu chống cường hào, đòi cải cách hương thôn… Trong KCCP, hầm bí mật trong đình đã cứu được 55 cán bộ, chiến sĩ trong trận chống càn năm 1951… Năm 1968, đình Thượng Phú được tỉnh chọn làm địa điểm tuyên thệ, tiễn đưa 2 tiểu đoàn 910, 911 vào Nam chiến đấu. Được xếp hạng DTLS và DTKTNT cấp tỉnh (2003).

3982. Thượng Phúc 上 福

Xã cũ, vốn là x. Mỹ Lạc, đầu tk. XX đổi thành Thượng Phúc, thuộc tg Cao Mại, p. Kiến Xương. Trong KCCP thuộc x. Quang Trung, h. Kiến Xương. Nay thuộc x. Quang Trung, h. Kiến Xương. Dân số 1452 người (1927). Địa bạ x. Thượng Phúc : 10 tr., không ghi năm lập, gồm công tư điền thổ 479 mẫu; trong đó công điền 4 mẫu 7 sào; tư điền 376 mẫu 9 sào. Thần tích x. Thượng Phúc : 18 tr., do Nguyễn Hiền sao năm 1736, về sự tích Đoàn Thượng (Đông Hải Đại Vương) thời Lý; sự tích Đông Hải Đại Vương thời nhà Thục và Bạch Y Tôn thần thời Tiền Lê. Tục lệ x. Thượng Phúc : 22tr., gồm 28 giao ước của hộ Tư văn thôn lập ngày tháng 8 năm Tự Đức 30 (1877). Hương ước l. Thượng Phúc (1936): 28 tr. viết tay. Xt: Mỹ Lạc (xã cũ - 2513)

3983. Thượng Phúc 上 福

Xã cũ, vốn là là x. Thượng Miên, từ năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), kiêng húy chữ Miên, đổi là x. Thượng Phúc. Cuối tk. XIX thuộc tg Hạ Động, h. Đông Quan, p. Thái Bình, t. Nam Định. Đầu tk. XX thuộc tg Hạ Động, h. Đông Quan, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Hồng Hưng, h. Thụy Anh. Nay thuộc x. Thụy Sơn, h. Thái Thụy. Dân số 866 người (1927). Địa bạ xã  Thượng Phúc : 24 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 488 mẫu 2 sào 8 tấc; trong đó công điền 35 mẫu 5 sào 2 thước 5 tấc; tư điền 383 mẫu 2 sào 5 thước; thổ trạch viên trì 58 mẫu 6 sào 4 thước 3 tấc. Tục lệ xã Thượng Phúc : 28 tr., gồm 21 lệ, lập ngày 9 tháng 3 năm Tự Đức 6 (1853); 23 lệ, lập ngày 10 tháng Giêng năm Minh Mệnh 11 (1830).  Hương ước l. Thượng Phúc (1936): 10 tr. viết tay.  Bản khai thần tích - thần sắc l. Thượng Phúc (1938): 18 tr., 14 tr. chữ Hán;  11 đạo sắc phong; 3 thần tích; thần: Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải. Bản khai thần tích-thần sắc th. Châu Linh (1938): 12 tr., 1 tr. chữ Hán; 1 đạo sắc phong; thần: Thủ Rũng Bộ, Cao Tăng Thảo Hiệu, Lão Tăng Thủy Đưỡng.

3984. Thượng Phúc 上 福

Xã cũ, vốn là th. Đông Thượng, được lập thành xã riêng theo Quyết định số 27 ngày 26-6-1902 của Thống sứ Bắc Kỳ. Đầu tk. XX thuộc tg Tiên Bá, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Quang Vinh, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. An ấp, h. Quỳnh Phụ. Dân số 463 người (1927). Địa bạ x. Thượng Phúc : 52 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 1695 mẫu 4 sào 8 thước 8 tấc; trong đó công điền 28 mẫu 3 sào 2 thước; tư điền 1481 mẫu10 thước; thổ trạch viên trì 152 mẫu 5 sào 8 thước 2 tấc. Bản khai thần tích - thần sắc (1938):  6 tr.; Thần:  Đông Hải, La Thiện Tây Tấn

3985. Thượng Phúc

Đình, l. Thượng Phúc, x. Quang Trung,  h. Kiến Xương. Khởi dựng đầu tk. XVII, đại tu  năm Quý Tỵ, đời Thành Thái (1893) và năm Kỷ Mùi, đời Bảo Đại (1919).


Trong KCCP, cổng dậu bị hư hỏng, nhưng vẫn còn đủ 3 tòa: Đại bái 5 gian, trung tế 3 gian, hậu cung xây 3 tầng. Nóc đại bái đắp ngạc long, hồi xây cánh bảng, bẩy long hóa tùng, cúc, trúc, mai chạm sâu, độ chênh bong lớn, khỏe và đẹp. Nội thất lòng thuyền tứ trụ, rồng lớn xếp thành 12 đầy đủ lớn chạm thông 5 lớp, cốn thượng chạm hổ phù hoặc văn triện cài hoa, đấu chạm hoa sen, giường chạm mây, lá... Hậu cung xây chồng diêm cao 10m, đại bờ đắp long chầu, nghê múa, đao đắp song loan, 8 ô cổ các đắp tứ linh, tứ quí. Thờ Nam Hải Đại Vương (An Dương Vương), Đông Hải Đại Vương (Đoàn Thượng), và bản cảnh Phúc thần Bạch Y Tôn thần.

Tháng 2-1942, hội nghị bí mật của Tỉnh đảng bộ Thái Bình đã họp tại đây để quyết sách những nhiệm vụ chiến lược chống phát xít, xây dựng lực lượng vũ trang chờ thời cơ khởi nghĩa. Được xếp hạng DTLS và DTKTNT cấp Quốc gia (1990).

3986. Thượng Phúc 1

Cống điều tiết tưới tiêu nội đồng, ở cuối sông Sành, điểm chảy vào sông Diêm Hộ, x. An ấp, h. Quỳnh Phụ. Xây dựng năm 1979, có 3 cửa, cửa giữa rộng 4,40m , 2 cửa bên, mỗi cửa rộng 1,90 m; cao trình đáy (- 2.40). Bằng bê tông cốt thép, dạng cống hộp lộ thiên, cánh van thép, đóng mở bằng vít me; chất lượng tốt. Điều tiết nước và chống dồn cho vùng trũng ven sông Sành, trên diện tích 3500ha thuộc các x. An ấp, Quỳnh Hội, Quỳnh Hải, Quỳnh Minh, Quỳnh Văn, Quỳnh Thọ.

3987. Thượng Tầm 上 尋

Tổng, đầu tk. XIX thuộc h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Có 7 xã, phường: Thượng Tầm, Hạ Tầm, Hội Châu, Thượng Phú, Cổ Hội, Dương Xuyên, ph. thủy cơ Ngã Ba Côn. Cuối tk. XIX thuộc h. Thanh Quan, p. Thái Bình, t. Nam Định; có 6 xã: Thượng Tầm, Thượng Phú, Hạ Tầm, Cổ Hội, Hội Châu, Dương Xuyên. Đầu tk. XX thuộc p. Thái Ninh, t. Thái Bình; có 9 xã: An Phú, Cổ Hội, Dương xuyên, Hội Châu, Long Mỹ, Tầm Phương, Thủy Cơ, Thượng Phú, Thượng Tầm. Nay thuộc h. Đông Hưng.

3988. Thượng Tầm 上 尋

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Thượng Tầm, h. Thanh Quan, p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Thượng Tầm, p. Thái Ninh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Thượng Phương, h. Đông Quan. Nay thuộc x. Đông Hoàng, h. Đông Hưng. Dân số 5682 người (1927). Địa bạ x. Thượng Tầm : 12 tr., khai tháng 8 năm Đồng Khánh 3 (1888), gồm công tư điền thổ 1099 mẫu 2 sào 7 tấc; trong đó công điền 244 mẫu 4 sào 14 thước; tư điền 768 mẫu 2 sào 5 thước 8 tấc;  công thổ 50 mẫu 8 sào 7 thước 9 tấc;  từ thổ trạch viên trì 29 mẫu 5 sào 8 thước 6 tấc. Thần sắc x. Thượng Tầm : 6 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (2 đạo). Phong cho Hoàng Thái Hậu. Thần tích th. Chàng 撞: 22 tr., gồm sự tích Thiệu Ninh Công chúa (người Cổ Liêu, huyện Thanh Quan, con của Trần Nghệ Tông và bà Vũ Nương, có công cấp 80 mẫu ruộng và dựng chùa Từ Nhân. Thần tích th. Phạm 范: sự tích Thành hoàng trị thủy ở thời Trần; sự tích Đoàn Thượng (Đông Hải Đại Vương) thời Lý ; sự tích Thục An Dương Vương (Nam Hải Đại Vương);  sự tích Hoàng hậu thứ 3 triều Lý (người hương Cổ Lỗi, huyện Siêu Loại, tên Yến, hiệu Khiết Nương, có nhan sắc, được Lý Thánh Tông yêu mến, lập làm Hoàng hậu). Có 2 Bản khai thần tích - thần sắc l. Thượng Tầm (1938): Một bản 7 tr., 11 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong;  thần Trần Triều Thượng Hầu. Một bản 7 tr., 14 tr. chữ Hán; 11 đạo sắc phong; thần Lý Triều Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Và 5 Bản khai thần tích - thần sắc của 5 thôn: Th. Giàng (11 tr., 25 tr. chữ Hán; 12 đạo sắc phong; 1 thần tích; thần Thiệu Ninh Công chúa). Th. Long (7 tr., 11 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong; thần Trần Triều Thượng Hầu). Th. Phạm (12 tr., 11 tr. chữ Hán; 11 đạo sắc phong; 3 thần tích; thần: Nam Hải, Đông Hải, Hắc Thần). Th. Phần (11 tr., 25 tr. chữ Hán; 12 đạo sắc phong; 1 thần tích; thần Thiệu Ninh Công chúa). Th. Thượng (7 tr., 14 tr. chữ Hán; 11 đạo sắc phong; thần Lý Triều Linh Nhân Hoàng Thái hậu).

Tục lệ th. Long 龍: 10tr., gồm 16 ước lập ngày 30 tháng 12 năm Đồng Khánh 1 (1886). Tục lệ th. Phần 枌: 10tr., gồm 17 khoản lập ngày 6 tháng 2 năm Thành Thái 12 (1900). Tục lệ th. Phạm 范: 4tr., gồm 5 ước không ghi ngày lập. Tục lệ th. Thượng 上: 12tr., gồm 26 lệ lập ngày 6 tháng 3 năm Thành Thái 17 (1905). Tục lệ th. Chàng 撞: 10tr., gồm 17 ước không ghi ngày lập.   Hương ước x. Thượng Tầm 1936: 7 tr.

3989. Thượng Tầm

Bến đò vượt sông Trà Lý, bên  tả là x. Thái Thành, h. Thái Thụy, bên hữu là x. Trà Giang, h. Kiến Xương. Đây là đò nhỏ chủ yếu phục vụ việc qua sông của nhân dân trong vùng. Xưa, dùng đò gỗ, nay thay bằng thuyền sắt.

3990. Tiên Bố 先 布

Tổng, đầu tk. XIX thuộc h. Quỳnh Côi,  p. Thái Bình,  tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Có 7 xã: Tiên Bố, Đại Nẫm, An Ký, Cầm Mỹ, Lai ổn, Mai Trang, Mỹ Trang. Cuối tk. XIX thuộc h. Quỳnh Côi, p.p. Thái Bình; có 7 xã: Tiên Bố, Đại Nẫm, Yên Ký, Lai ổn,  Mai Trang, Cam Mỹ, Mỹ Trang. Đầu tk. XX viết là x. Tiên Bá, thuộc h. Quỳnh Côi; có 8 xã: An Ký, Cam Mỹ, Đại Nẫm, Giáo Thiện, Lai ổn, Mai Trang, Thượng Phúc, Tiên Bá. Nay thuộc h. Quỳnh Phụ.

3991. Tiên Bố 先 布

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Tiên Bố, h. Quỳnh Côi,  p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Tiên Bá, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Diên Hồng, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Thọ, h. Quỳnh Phụ. Dân số 615 người (1927). Địa bạ x. Tiên Bố: 44 tr., khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), gồm công tư điền thổ 854 mẫu 114 thước 3 tấc; trong đó công điền 26 mẫu 7 sào 14 thước 4 tấc; tư điền 662 mẫu 1 sào 14 thước 5 tấc; thổ trạch viên trì 138 mẫu 9 sào 12 thước 4 tấc. Thần sắc th. Bố Xá 布 舍: 7 tr., phong cấp vào năm Cảnh Thịnh (3 đạo). Phong cho Thông Chân Đại Độ... Đại Vương. Tục lệ x. Tiên Bố: 32tr., gồm 37 lệ của th. Bố Xá 布 舍 , lập ngày 10 tháng 11 năm Chiêu Thống 1 (1787); 1 lệ, lập  ngày 27 tháng 9 năm Gia Long 14 (1815); 4 lệ, lập  ngày 2 tháng 10 năm Minh Mệnh 12 (1831); 7 lệ của th. Đông Trụ 東 柱, lập ngày 18 tháng 9 năm Đồng Khánh 2 (1887); 4 lệ của th. Địa Linh 地 靈 , không ghi ngày lập. Thần tích th. Bố Xá 布 舍: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Minh Công (Đài Đô... Đại Vương); Huệ Công (Đài Bàng... Đại Vương); Triết Công (Thụ Lâu... Đại Vương); Trinh Công (Thông Chân... Đại Vương) và Thiên Bồng (Linh ứng... Đại Vương) thời Trần Nghệ Tông. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 5 tr.; thần Thiên Bồng, Linh Thúy, Nguyễn Minh Không.

3992. Tiên Cầu 仙 梂

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Tang Thác, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX thuộc tg Tang Giá, h. Quỳnh Côi, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Khánh Thiện, h. Quỳnh Côi. Nay thuộc x. Quỳnh Trang, h. Quỳnh Phụ. Dân số 559 người (1927). Địa bạ x. Tiên Cầu: 8 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 20 mẫu; tư điền 178 mẫu; đất hạng 2, 12 mẫu; đất hạng 3, 36 mẫu. Tục lệ x. Tiên Cầu : 8 tr., gồm 10 lệ, sao ngày 5 tháng 10 năm Khải Định 3 (1918). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 7 tr.; thần  Chiêu Đạo.

3993. Tiên – Duyên,– Hưng

Căn cứ du kích, nằm ở phía bắc tỉnh thuộc địa bàn 3 huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân. Đây là khu căn cứ du kích rộng lớn của t. Thái Bình cũng như của vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ KCCP. Được xây dựng cuối năm 1950 tập trung vào địa phận các xã Hồng Việt (Tiên Hưng ), Hồng Lĩnh, Chí Minh, An Đồng (Duyên Hà), Liên Hiệp, Thái Hưng, Tân Thịnh (Hưng Nhân) trung tâm là x. Hồng Lĩnh (Duyên Hà), đây cũng là khu vực rộng lớn gồm hệ thống các làng chiến đấu liên hoàn, có địa hình thuận lợi, nằm trên các trục đường giao thông của tỉnh. Đây cũng là nơi đóng các cơ quan đầu não của tỉnh: Tỉnh uỷ, UBKCHC tỉnh, các cơ quan ban ngành chỉ đạo chiến tranh, là địa bàn đứng chân khá vững chắc cho cơ quan, bộ đội chủ lực chuẩn bị những trận đánh lớn trong toàn tỉnh đồng thời cũng là nơi tập kết  và đầu mối giao thông liên lạc của các tỉnh tả, hữu ngạn sông Hồng, sông Luộc với liên khu Ba. Căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng thực sự là căn cứ kháng chiến vững chắc của tỉnh, đã đánh bại các cuộc tiến công càn quét lớn của địch, điển hình là trận chống càn Mandarinne tháng 10-1951.

3994. Tiên Hiền bi ký 先 賢 碑 記

Bia dựng năm Cảnh Hưng thứ 13 (1752), ở Văn từ, x. Khang Ninh, h. Quỳnh Côi (nay là x. Quỳnh Trang, h. Quỳnh Phụ). Bia 3 mặt, khổ 0.65m x 0.58m. Gồm 43 dòng, khoảng 500 chữ. Nội dung : Ghi lệ của xã miễn phu phen tạp dịch cho những người đi học. Xã giành 3 mẫu ruộng để nuôi thầy học. Ghi tên, họ những vị tiên hiền đã đỗ đạt và việc tu sửa Văn từ để thờ các vị đó. N. 4147/9.

3995. Tiên Hưng 先 興

Phủ, huyện cũ trước 1945: Vốn là p. Long Hưng đặt từ nhà Trần. Nhà Hồ đổi là p. Tân Hưng. Thuộc Minh đổi là Tân An rồi Trấn Man. Nhà Lê lấy lại tên cũ là Tân Hưng. Tiên Hưng (phủ) bắt đầu từ nhà Lê Trung hưng, do kiêng tên Lê Kính Tông (1600-1619) là Lê Duy Tân đổi p. Tân Hưng thành p. Tiên Hưng. Theo Dư địa chí của Phan Huy Chú, cuối tk. XVIII p. Tiên Hưng thuộc tr. Sơn Nam Hạ; có 4 huyện: Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan; gồm 187 xã, thôn, trang, phường, sở. Theo sách Các tổng trấn xã danh bị lãm , đầu tk. XIX p. Tiên Hưng thuộc tr. Sơn Nam Hạ; có 4 huyện: Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Quan; gồm 30 tổng; 215 xã, thôn, phường, sở, trang. Theo sách Đại Nam nhất thống chí , vào nửa cuối tk. XIX p. Tiên Hưng thuộc t. Hưng Yên; có 4 huyện: Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê, Tiên Lữ; gồm 30 tổng, 215 xã, thôn, trang. Theo sách Đồng Khánh địa dư chí , cuối tk. XIX p. Tiên Hưng thuộc t. Hưng Yên; có 4 huyện: Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê, Tiên Lữ; gồm 28 tổng, 215 xã, thôn, trang.

Khi thành lập t. Thái Bình (1890), tách h. Thần Khê sáp nhập vào p. Thái Bình thuộc t. Thái Bình. Năm 1894, hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà lập làm p. Tiên Hưng, sáp nhập vào t. Thái Bình.

Theo Quyết định số 7 ngày 24-1-1895 của Kinh lược Bắc Kỳ: Huyện Thần Khê đổi thành phủ Tiên Hưng. Phủ cũ Tiên Hưng chia làm 2 huyện riêng biệt: Duyên Hà và Hưng Nhân, mỗi huyện có số viên chức như sau: 1 Tri huyện, 1 Huấn đạo, 1 lại mục, 1 lễ mục, 1 thông lại và 7 lính lệ. Từ đây, Tiên Hưng (phủ) chỉ gồm một huyện Thần Khê và tồn tại đến 1948, đổi gọi là h. Tiên Hưng.

Về sự lệ thuộc, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia Sơn Nam làm hai lộ Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ, p. Tiên Hưng thuộc Sơn Nam Hạ. Thời Tây Sơn và đầu thời Nguyễn, p. Tiên Hưng thuộc tr. Sơn Nam Hạ. Từ năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), p. Tiên Hưng thuộc tr. Nam Định. Từ năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), p. Tiên Hưng thuộc t. Hưng Yên. Năm 1894, hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà lập thành p. Tiên Hưng, sáp nhập vào t. Thái Bình.

3996. Tiên Hưng

Thành phủ, xây năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), trên địa phận giữa 2 làng Cổ Quán và Lộ Vị, h. Thần Khê, nay thuộc x. Thăng Long, h. Đông Hưng. Chu vi 4 mặt thành dài 130 trượng (520 mét), cao 7 thước (2,8m), mở 3 cửa. Cửa chính trông ra bến sông Tiên Hưng (đoạn cầu Đình Thượng ngày nay), 2 cửa Nam và Bắc thông xuống miền Đông Quan và các h. Duyên Hà, Hưng Nhân. Chung quanh thành có hào sâu 2,8 m, rộng 24 m… vừa để bảo vệ thành, vừa là địa giới giữa phủ đường và cư dân sống quanh phủ lỵ. Nay thành đã mất.

3997. Tiên Hưng

Huyện cũ sau 1945: Tháng 3-1949, địa giới h. Tiên Hưng được điều chỉnh như sau:

* Sáp nhập vào h. Tiên Hưng 4 thôn: Hậu Trung, An Lập, An Liêm, Vạn Ri (của tg Vị Sĩ cũ) của h. Duyên Hà

* Cắt các thôn La Triều (thuộc x. Phú Triều cũ), Thượng Thọ (thuộc x. Xích Ngọc cũ), Trình Uyên, Phục Lễ của h. Tiên Hưng sáp nhập vào h. Quỳnh Côi.

Đồng thời chia lại đơn vị hành chính cấp xã, mỗi xã mới gồm một số xã, thôn cũ trước 1945; h. Tiên Hưng có 15 xã:

- Bạch Đằng , gồm:  Hậu Trung, An Liêm, gồm các xã, thôn cũ: An Lập, Vạn Ri.

- Bắc Sơn , gồm: Tạ Xá, Duyên Tề, An Thọ.

- Chi Lăng , gồm: Y Đốn (Nội, Ngoại), Ninh Thôn, Bổng Thôn, Phan Thôn, Kênh Thôn.

- Chương Dương , gồm: Cao Mỗ, Nam Lỗ, Thổ Khối, Đồng Mi.

- Đông Đô, gồm: Đô Kỳ, Mậu Lâm, Đồng Phó, Chí Linh.

- Hồng Việt , gồm: Phú Khê Đông, Phú Khê Đoài, Phú Khê Tứ, Bá Thôn, Quán Xá, Đồng Mai, Quán Thôn.

- Hoa Lư, gồm: Thọ Vực, An Lễ, An Bài, Kim Bôi, Lễ Nghĩa.

- Lô Giang , gồm:  Hoàng Nông, Phú Nông, Phú Điền, An Thái, Khánh Lai.

- Mê Linh , gồm: An Lạc, An Vĩnh, An Nạp, Kim Châu, Tiến Trật.

- Minh Châu ,: Đồng Cống, Thọ Cao, Phú Vinh, Cao Phú.

- Nguyên xá, gồm: Đà Giang, Đông Khê, Thất Khê, Bắc Lạng.

- Phong Châu , gồm: Cổ Khúc, Cổ Cốc, Cổ Xá (Bùi), Tăng, Phạm.

- Phú Lương , gồm: Duyên Tục, Duyên Trang, Kim Ngọc, Phú La.

- Tây Đô, gồm:  Đa Phú, Duyên Trường, Mỹ Thịnh, Thôn Kênh.

- Thăng Long , gồm: Cổ Quán, Thần Khê, Lô Vị, An Liêm.

Đến cuối 1955, Thái Bình tiến hành CCRĐ, h. Tiên Hưng thành lập 27 xã mới: An Châu, Bắc Sơn (từ 2-12-1955, tách xóm Duyên Tề sáp nhập vào x. Quỳnh Châu, h. Quỳnh Côi), Bạch Đằng, Chi Lăng, Chương Dương, Đô Lương, Đông Đô, Đồng Phú, Hoa Lư, Hoa Nam, Hòa Bình, Hồng Châu, Hồng Giang, Hồng Việt, Hợp Tiến, Lô Giang, Liên Giang, Minh Tân, Minh Châu, Mê Linh, Phong Châu, Phú Châu, Phú Lương, Nguyên  Xá, Tây Đô, Thăng Long, Trọng Quan (trước thuộc h. Đông Quan, sáp nhập vào h. Tiên Hưng từ 2-12-1955).

Tháng 6-1969, cắt các xã Bắc Sơn, Chi Lăng, Đông Đô, Hòa Bình, Tây Đô từ h. Tiên Hưng sang h. Hưng Hà; hợp nhất h. Tiên Hưng và h. Đông Quan thành h. Đông Hưng.

3998. Tiên Hưng

Sông, xưa là chi lưu của sông Hồng đoạn qua trung gian Hải Thị, nối với sông Phổ Đà (Đà Lỗ -

Nông Kỳ - sông Luộc) chia dòng ở cống Nham Lang (x. Tân Tiến, h. Hưng Hà) chạy xuyên suốt p. Long Hưng nên thời Lý - Trần có tên gọi là Long Khê (sông chảy qua p. Long Hưng).


Đắp đập Ban trên sông Tiên Hưng (6-1933)

Nguyên sử chép là sông Đức Cương (vì cửa Nham Lang có gò Đức Cương trong hệ thống Đa Cương cổ). Thời Nguyễn gọi là sông Tiên Hưng do dòng này chảy qua p. Tiên Hưng. Trước thời Lý, đây là dòng sông tự nhiên. Đời Lý Thánh Tông hạ lệnh đắp đê. Đại sư Không Lộ, Giác Hải và Lưu Lượng đắp đê sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, chặn cửa Nhâm Lang, từ đấy dòng sông nhỏ, nông dần; nay thượng nguồn chỉ rộng độ15m, đoạn qua cầu Nguyễn rộng độ 50m. Sông chảy đến địa phận x. Đông Tân, h. Đông Hưng thì chia dòng nửa ra cửa Cun (sông Trà Lý), nửa ra sông Diêm. Trước tk. X, sông tham gia tải phù sa bồi đắp đồng bằng hai phủ Long Hưng và Thái Bình. Từ khi đắp đê qua hệ thống cống Đào Thành, Nham Lang, cống Cun… sông dẫn nước ngọt và góp phần tiêu úng cho các huyện Hưng Hà, Đông Hưng và miền tây bắc h. Thái Thụy. Sông dài 51 km, rộng 50 - 100 m, còn  là đường giao thông thủy quan trọng của vùng này.

3999. Tiên Hưng phủ chí 先 興 府 志

Sách, do Phạm Nguyễn Hợp 范 阮 合 soạn. Chép lại theo bản năm Quý Mùi. 1 tựa, có chữ Nôm. Địa lí phủ Tiên Hưng (Thái Bình): Vị trí, hình thế, chợ, bến đò, sản vật, thuốc Nam, nông nghiệp, công nghiệp, ca múa.

Nơi giữ: Viện NCHN. 1 bản viết: A.3167 (120 tr., 28 x 16)

4000. Tiên Hưng phủ Thần Khê huyện các xã từ vũ bi kí 先 興 府 晨溪 縣 各 社 祠 宇 碑 記 

Bia dựng năm Cảnh Hưng 33 (1772), để tại lăng Phạm Huy Đĩnh x. Chương Dương h. Đông Hưng. Bia 1 mặt, khổ 120 x 75cm, không có hoa văn trang trí. Tác giả là Tiến sĩ khoa Tân Hợi, chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, nhập thị tham tòng Hộ bộ Thượng thư tri Trung thư giám thiêm tri Đông các quốc sử tổng tài, trí sĩ, khởi phục Đại tư đồ Xuân Quận công Nghi Xuân Tiên Điền Nguyễn Nghiễm  阮 儼 soạn. Nội dung : Văn bia ghi tiểu sử và công trạng vị đại quan Trung quân đô đốc phủ Thiều Quận công Phạm Huy Đĩnh. Ông có nhiều công lao với nước, trấn yên nơi biên ải, được triều đình ban thưởng rất hậu. Lúc đương thời, ông từng cấp cho th. Mụ x. Cao Mụ trong huyện 300 quan tiền cổ và 5 mẫu ruộng để phụng thờ. Sau khi mất, ông được phong tặng chức Thái tể và ban cấp cho các xã trong phủ huyện phụng thờ. N. 42766

4001. Tiên La 先 羅

Xã cũ, đầu tk. XIX thuộc tg Canh Nông, h. Duyên Hà, p. Tiên Hưng,  tr. Sơn Nam Hạ. Đầu tk. XX thuộc tg Canh Nông, h. Duyên Hà, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Đoan Hùng, h. Duyên Hà. Nay thuộc x. Đoan Hùng, h. Hưng Hà. Dân số 1177 người (1927). Tục lệ x. Tiên La: 16 tr., gồm 30 lệ, lập ngày 8 tháng 10 năm Thành Thái 14 (1902). Thần tích x. Tiên La: 42 tr., gồm sự tích Bát Nạn Phu nhân (Trinh Thục Công chúa) thời Trưng Nữ Vương; và sự tích Thiên Quan Đương Đình Đại Vương; Quý Minh Đại Vương; Báo Thiên Đại Vương; Thiên Bồng Đại Vương; Thiên Quan Cây Gạo... Tôn thần; Thiên Quan Đường Cõi Tôn thần thời Hùng Vương, do Nguyễn Bính soạn năm 1572. Bản khai thần tích - thần sắc (1938): 2 tr., 4 tr. chữ Hán; 1 thần tích; thần Bát Nạn Phu nhân. Hương ước x. Tiên La (1936): 27 tr. viết tay.

4002. Tiên La

Chùa th. Tiên La, x. Đoan Hùng, h. Hưng Hà. Tên chữ là "Tiên La tự", tọa lạc trong khuôn viên rộng trên 600 m 2 . Chùa có từ đầu CN. Khi cha, chồng bà Vũ Thị Thục bị Tô Định giết, bà bị ép duyên, bà đã lẩn tránh tại chùa này, sau tập hợp nghĩa sĩ, kéo quân về Mê Linh cùng Trưng Vương dấy nghĩa.

Chùa đại tu lớn vào năm 1927. Tòa ông Hộ 5 gian. Điện Phật 3 gian, cùng phong cách chùa ông Hộ, vì ngoài chồng đấu hoa sen, vì giữa đặt vì kèo vành được chạm tứ linh, tứ quý và sơn son thếp vàng.

Tượng pháp đầy đủ, đồ thờ tự phong phú, đẹp nhất là cỗ khám thờ mẫu "Bát Nạn Công chúa" đặt trên sập chân quỳ dạ cá, lắp 2 tầng cửa võng chạm tứ linh.

4003. Tiên La

Đền th. Tiên La, x. Đoan Hùng, h. Hưng Hà. Tương truyền có từ hồi đầu CN, tọa lạc trên gò Kim Quy, cạnh bờ sông Đức Cương (sông Tiên Hưng), diện tích khuôn viên rộng 3.249 m 2 . Sát bờ sông có hàng sung già vài trăm năm tuổi, lại có gốc xi tán rộng trên 100 m 2 . Xưa vườn đền rất nhiều nứa và những rừng móc già, cảnh trí thanh u, vào đền như vào rừng, nay tre, nứa, móc bị phá nhiều. Cổng đền xây chồng diêm, bảng văn đề 4 chữ "Thiên hạ dương dương". Năm 1938-1939, đền được đại tu gồm 3 tòa, bố cục chữ "công"… Đầu tk. XXI, sửa lại hậu cung. Đền thờ Bát Nạn tướng quân. Trên gò Kim Quy này bà đã đánh trận cuối cùng với tướng Lưu Long nhà Hán, vì thân cô thế cô, không đủ sức thắng giặc, Bát Nạn hóa thân tại gò này. Dân Tiên La nhớ ơn bà, lập đền thờ, trải 2000 năm hương đăng không bao giờ tắt. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia  (1986).

4004. Tiên Long thương đoàn


Một hình thức phường hội, quyên góp tiền của người giàu để có vốn lập cơ sở liên lạc hợp pháp dưới hình thức một cửa hiệu buôn bán. Có tất cả 15 hội viên góp vốn, mỗi người 5 $  để thực hiện ý định trên. Do ông Nguyễn Quang Cáp thành lập vào 5-1927 tại l. An Hiệp (Quỳnh Giao, Quỳnh Côi).

Xt: Hiệu Tạp hóa Nam Xương (1595)

4005. Tiên ngư lục phường bi ký 先 魚 六 坊 碑 記

Bia dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707) ở chùa x. Vạn Đồn, h. Thụy Anh (nay là x. Thụy Hồng, h. Thái Thụy). Bia hai mặt, khổ 1,07m x 0,75m. Gồm 60 dòng, khoảng 500 chữ. Trang trí rồng, phượng. Người soạn, viết, khắc: Bùi Huệ, Nguyễn Khắc Ân. Nội dung: Ghi chép về nghề đánh cá và những điều ước của 6 phường đánh cá ở h. Thụy Anh, do các trùm trưởng và ngư dân dàn dựng. Ca ngợi nghề đánh cá. 15 điều khoản ước của ngư phường như: Phải tôn thờ vua, đóng thuế đủ, hàng năm đến kỳ xuân tiết các phường phải đem lễ vật về cúng tổ sư. Không được tự ý tăng giá cá. Ai làm sai sẽ thông báo cho các phường biết và phải nộp phạt một con lợn, một hũ rượu. Có ghi lại vụ kiện Cha Cóc đã bán cá không đúng điều ước. N. 4674/5.

4006. Tiên Tiến

Nghĩa trang cách mạng th. Nham Lang, x. Tân Tiến, h. Hưng Hà (l. Nham Lang từ sau năm 1945 đọc chệch thành Nhâm Lang). Nham Lang được xếp vào danh sách "làng có công với nước".  Năm 1943, những người yêu nước và tổ chức Việt Minh Nham Lang lập nghĩa trang riêng cho thôn, trước hết cho người nghèo. Ngày 25-5-1943, chính thức đặt bia, công khai đối trận với chính quyền thân Nhật, ghi rõ tôn chỉ mục đích Hội Thanh niên vào bia đá: "Thanh niên Nham Lang đã tỉnh dậy, đã đoàn kết để mưu cầu hạnh phúc chung. (Nghĩa trang này) không giống như trăm ngàn nghĩa trang khác, không phải chỉ là nơi an nghỉ cuối cùng…, hơn thế nữa nó còn là dấu ghi thành tích vẻ vang của một cuộc tranh đấu…"


Cổng nghĩa trang

Tấm bia nghĩa trang giáp Tiên Tiến rộng 1m, cao 1,7m, trán chạm lưỡng long triều nguyệt, mặt trước khắc chữ Quốc ngữ, mặt sau chạm chữ Hán. Xưa đặt trên gò Đống Am, dưới một tán đa đại thụ (giữa khu nghĩa trang, phía trước  có hồ bán nguyệt). Nhà bia đặt giữa hồ, chung quanh xây tường hoa, lại xây cổng dậu to lớn. Đây là nghĩa trang cách mạng đầu tiên của cả nước, được xếp hạng DTLS cấp quốc gia (1990).

4007. Tiền Châu

Bãi biển, do phù sa sông Hồng, sông Lân, sông Trà Lý bồi đắp chạy suốt từ phía đông Long Hầu ra tới biển. Từ năm Minh Mệnh thứ 12 (1822) Phan Bá Vành đã chiếm toàn bộ gần 100 km bãi biển này làm căn cứ. Năm 1827, cuộc khởi nghĩa bị triều đình dẹp bỏ, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã chiêu mộ dân khai khẩn, lập ra 8 tổng: Tân Bồi, Đông Thành, Tân Định, Tân Cơ, Tân Hưng, Tân Thành, Tân Phong, Tân An. Sau cắt tg Tân Bồi ở tả sông Trà Lý về h. Thái Ninh, lấy thêm tg Đại Hoàng của h. Chân Định lập ra h. Tiền Hải. Bãi biển Tiền Châu sau đổi gọi là Đồng Châu. Vài chục năm gần đây một khu công nghiệp khai thác khí và sử dụng khí đốt đã được xây dựng ở đây.

4008. Tiền Hải 錢 海

Huyện cũ trước 1945: Được thành lập từ tháng 9

năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), gồm 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp; số đinh hơn 2.350 người; số ruộng hơn 18.960 mẫu (lý 600 mẫu, ấp 400 mẫu, trại 200 mẫu, giáp 120 mẫu); chia làm 7 tổng (có lẽ số ruộng và số đinh kể trên là kết quả công cuộc khai hoang của Nguyễn Công Trứ, bao gồm cả số ruộng và số đinh của 1 tổng ở h. Nam Chân  và 1 tổng ở h. Giao Thủy t. Nam Định).  Lấy Tri huyện Quỳnh Lưu người Sơn Nam là Vũ Danh Dương làm tri huyện. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) lập phân phủ Kiến Xương gồm 2 huyện Chân Định và Tiền Hải. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) bỏ phân phủ, h. Tiền Hải do Tri huyện Chân Định kiêm nhiếp.

Sau gần 20 năm, danh sách tổng, xã và số ruộng đất, dân đinh của h. Tiền Hải được ghi lại trong sách Đồng Khánh địa dư chí (1986-1987) như sau: Toàn huyện có 7 tổng gồm 47 xã thôn trang trại (Tân Định 6 xã, Tân An 6 lý ấp, Tân Cơ 8 lý ấp giáp, Tân Hưng 6 lý ấp, Tân Thành 6 xóm ấp trại, Tân Phong 6 xóm ấp, Tân Bồi 9 ấp xóm trại giáp); ruộng 6.704 mẫu 6 sào 10 thước 2 phân 1 ly;  đất 1.497 mẫu 9 sào 11 thước 3 tấc 3 phân; đinh 1.492 người. Sau đó, có những thay đổi như sau:

- 1891 sáp nhập tg Đại Hoàng (của h. Chân Định) vào h. Tiền Hải.

- 1891 sáp nhập các xã, thôn, trại, giáp (của h. Giao Thủy, t. Nam Định) ở bên tả ngạn sông Hồng, vào h. Tiền Hải, lập thành tg Đông Thành.

- 1894 tách tg Tân Bồi (của h. Tiền Hải) ở bên tả ngạn sông Trà Lý, sáp nhập vào h. Thanh Quan.

- 1894 chia x. Đông Thành (tg Đông Thành) làm 4 xã: Đông Thành, Nội Lang, Trung Đồng, Nam Đồng.

- 1892, 1897 và 1902 thành lập các xã: Thiện Thành, Vĩnh Trung, Thanh Châu, Trung Lang, Doãn Thượng, Hợp Châu, Phương Viên, Bát Cấp, Đại Đồng, Đông Phú, Châu Nhai …

Đầu tk. XX, h. Tiền Hải có 8 tổng, gồm 79 xã phường. Trong đó có 2 tổng mới; 41 xã, phường mới.

4009. Tiền Hải

Huyện cũ sau 1945: Năm 1949, sáp nhập th. Thư Điền thuộc h. Kiến Xương vào h. Tiền Hải và chia lại đơn vị hành chính cấp xã, mỗi xã mới gồm một số xã, thôn cũ trước 1945; h. Tiền Hải có 15  xã:

- Ái Quốc gồm: Diêm Trì, Đông Cao, Lũ Phong, Lưu Phương, Nguyệt Lũ, Quân Trạch.

- Công Trứ gồm: An Khang, La Cao, Ngoại Đê, Thư Điền, Tiểu Hoàng.

- Đông Hải gồm: Đông Hào, Đông Quách, Hướng Tân, Vĩnh Trung.

- Đông Hưng gồm: Bình Thành, Doãn Đông, Hợp Châu, Lộc Trung, Thiện Thành, Thiện Tường, Thủy Lạc, Đồng Lạc, Trung Thành, Hợp Phố.

- Hữu Nam, gồm: Định Cư, Hải Nhuận, ốc Nhuận, Quý Đức.

- Hữu Đạo, gồm: Đại Hoàng, Đại Hữu, Lạc Thành, Lương Phú, Trà Lý, Vĩnh Ninh.

- Nam Hải, gồm: An Tứ, Bát Cấp, Nội Lang, Trung Lang, Trung Lập, Thục Thiện, Sơn Tỉnh.

- Ngọc Thụ, gồm: Lương Điền, Trình Cát, Văn Hải, Vũ Xá.

- Ngô Quyền, gồm: Đông Biên, Đông Thành, Phú Lâm, Phương Viên (Nội, Ngoại), Thanh Minh.

- Phùng Hưng, gồm: Cam Lai, Đức Cơ, Hoàng Môn, Nho Lâm, Thanh Giám.

- Tân Châu, gồm: Bạch Long, Đồng Châu, Đông Hoàng, Ngải Châu, Tân Lạc.

- Tân Cơ, gồm: Bình Định, Doãn Thượng, Đại Đồng, Đông Phú, Hữu Vị, Năng Tĩnh, Thủ Chính, Trung Đồng.

- Tân Hưng, gồm: An Cư, Hưng Long, Hưng Thịnh, Kinh Xuyên, Phụ Quách, Phụ Thành, Quý Đức.

- Tân Thành, gồm các xã cũ: Chỉ Trung, Lạc Thiện, Phong Lạc, Phong Lai, Mỹ Đức.

- Văn Tố, gồm: Châu Nhai, Dưỡng Trực, Nam Đồng, Thanh Châu.

Đến cuối 1955, Thái Bình tiến hành CCRĐ, h. Tiền Hải thành lập 26 xã mới. Lấy chữ đầu chỉ các hướng: Đông, Tây, Nam làm chữ đầu của tên xã: Đông Cơ,  Đông Hoàng, Đông Long, Đông Lâm, Đông Minh, Đông Phong, Đông Quý, Đông Trà, Đông Trung, Đông Xuyên, Nam Chính, Nam Hà, Nam Hải,  Nam Hưng, Nam Hồng, Nam Thanh, Nam Thắng, Nam Thịnh, Nam Trung, Tây An, Tây Giang, Tây Lương, Tây Ninh, Tây Phong, Tây Sơn, Tây Tiến.

Sau đó, sáp nhập 5 xã: Bắc Hải, Phương Công, Vân Trường, Vũ Lăng, An Ninh của h. Kiến Xương vào  h. Tiền Hải (1969) và thành lập các xã mới: Nam Cường (1975), Đông Hải (1986), Nam Phú (1986), ttr. Tiền Hải (1986).

4010. Tiền Hải

Huyện - Đơn vị Anh hùng LLVTND thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (tuyên dương ngày 20-12-1994).

Là huyện ven biển của t. Thái Bình, có bờ biển dài hơn 20km, có cửa sông Hồng (Ba Lạt) và cửa sông Trà Lý. Có công nghiệp thăm dò dầu khí do Liên Xô (cũ) giúp đỡ. Tiền Hải là một trong những huyện có phong trào cách mạng sớm của Thái Bình. Tiêu biểu là cuộc biểu tình của nông dân diễn ra ngày 14-10-1930 chống áp bức và ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh. Ngày 14-10 đã được chọn làm ngày truyền thống của nông dân Việt Nam.

Tuy là huyện mới, thời phong kiến đã có 3 đại khoa (1 Hoàng giáp, 1 Tiến sĩ, 1 Phó bảng). Có các Di tích lịch sử văn hoá cấp nhà nước: Khu lưu niệm văn thân yêu nước Nguyễn Quang Bích (gồm Từ đường, Phần mộ và Cây đa Gò Chài); Nhà lưu niệm Bùi Viện (Từ đường, Phần mộ); Đình Tiểu Hoàng, đình Ngoại Đê và lăng tưởng niệm Nguyễn Công Trứ; Đình Tổ, Nhà thờ họ Tạ và Chùa Thư Điền; Đình Đông Quách; Đình Nho Lâm và Thanh Giám; Chùa Trung, Mả Bụt. Và hàng trăm DTLS, DTKTNT cấp tỉnh. Ngoài ra, Tiền Hải còn có bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành, Cồn Thủ...

Trong KCCM, quân và dân Tiền Hải đã chiến đấu 502 trận (có 72 trận đánh đêm), bắn rơi 4 máy bay Mỹ, bắn bị thương 9 chiếc khác, bắn cháy một tầu chiến. Phối hợp với các đơn vị trong tỉnh bắn rơi  máy bay, bắn cháy 3 tầu chiến, phá bỏ, vô hiệu hoá 500 quả bom nổ chậm và thuỷ lôi, giải phóng 2 cửa sông.

Toàn huyện có 19.221 thanh niên nhập ngũ, 5239 liệt sĩ, 1334 thương binh. Được nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương Quân công, 14 Huân chương Chiến công, 106 Huân chương Kháng chiến. Có 1 đơn vị Anh hùng lao động, 6 đơn vị Anh hùng LLVTND, 173 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 5 Anh hùng LLVTND.

4011. Tiền Hải

Thị trấn, thành lập ngày 13-12-1986, trên cơ sở 89,95 ha diện tích tự nhiên và 5653 nhân khẩu của x. Tây Sơn và 56,7 ha diện tích tự nhiên 1653 nhân khẩu của x. Tây Giang, chia làm 7 khu phố. Ttr. Tiền Hải nằm trên quốc lộ 39B, cách bãi biển Đồng Châu 10km, cách cửa Trà Lý 6km.  Diện tích tự nhiên 146.55 ha. Dân số 7306 nhân khẩu.

Địa hình bằng phẳng. Đến năm 2003 vẫn còn 520 hộ làm nghề nông nghiệp với 61ha cấy lúa, 6 ha đất trồng cây, 4,7 ha chuyên nuôi thả cá... Hướng phát triển kinh tế của thị trấn là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Hiện thị trấn đã có 245 hộ kinh doanh, dịch vụ, có chợ huyện tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Trường tiểu học thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Trạm y tế có diện tích 1440m 2 , 5 giường bệnh, có 1 bác sĩ, 3 y sĩ. Ngoài các cơ sở hạ tầng của thị trấn, nhân dân trong thị trấn còn được hưởng thụ những thiết chế văn hoá thể thao của huyện đặt trên thị trấn như nhà văn hoá, cung văn hoá thiếu nhi, sân vận động, bệnh viện, tượng đài. Có 9 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 109 liệt sĩ, 111 thương bệnh binh, 3 Lão thành cách mạng...

4012. Tiền Lê Hoàng đế tứ Cung phi

Thần thờ ở x. Tống Thỏ, tg Trực Nội, p. Thái Ninh (nay thuộc x. Đông Mỹ, tp Thái Bình). Sự tích : Tứ Nương thần phi là Cung phi thứ tư của vị Hoàng đế thời Tiền Lê, khi nghe tin bản xã có bệnh dịch, Phi tâu vua xin lập đàn ngay ở trong cung cầu đảo. Bệnh dịch được dập tắt. Đến khi Phi qua đời, dân xã ấy xin lập đền thờ, vua duyệt y cho dân xã tiền bạc để thờ, rất linh thiêng; quốc đảo, dân cầu đều ứng nghiệm.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/44-237) (Q4 0 -18/VIII,100(9).

4013. Tiền Lê trọng thần Bạch Y

Thần thờ ở th. Thượng (Thư Điền), tg An Bồi, h.

Trực Định (nay thuộc x. Tây Giang, h. Tiền Hải). Sự tích : Tương truyền ấp ấy ngày xưa còn là bãi biển mênh mông người thưa thớt. Bỗng dưng thấy hai người xuất hiện, một đàn ông và một người đàn bà mặc áo trắng, dáng vẻ đoan trang, phúc hậu đi tới không rõ họ tên, chiêu tập dân lưu tán, khai khẩn đất hoang, không lâu nơi này đã thành thôn ấp. Người người đều vui, tự cày ruộng lấy thóc ăn, tự đào giếng lấy nước uống (canh điền tạc tỉnh), nhà nhà đều ca khúc hát thanh bình như thời Đường Ngu của Nghiêu Thuấn ở Trung Quốc. Bỗng một ngày ông bà bỏ ra đi, không biết tới phương nào. Đời sau nhớ ơn lập đền thờ và tạc câu đối vào trụ đá để lưu niệm: "Bút giá nghiên trì, văn phái lãng - Tượng phong mã phụ, vũ uy dương".

Theo thần tích, truyện này có từ thời Lý Trần, đã bị mai một, đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), mới được phong là Tạo Lực Đại Vương. Đến thời Tự Đức 1 (1848) lại được phong Bạch Y Tôn thần Đại Vương.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE. a5/26), (Q4 0 -18/VIII,3).

4014. Tiền Lý Nam Đế

Thần thờ ở x. An Liêm, tg Vị Sĩ, h. Duyên Hà (nay thuộc x. Hồng Châu, h. Đông Hưng). Sự tích: Lý Bí (còn đọc là Lý Bôn), người h. Long Hưng, p. Thái Bình xưa. Tổ tiên vốn người phương Bắc, chạy sang nước ta từ thời Tây Hán, trải đã 7 đời. Lý Bí 19 tuổi làm quan nhà Lương, sau bất đắc chí trở về ở x. Tử Đường. Bấy giờ Thái thú Giao Chỉ là Chu Tắc tham tàn, ông vào ái Châu dấy binh đánh lấy Giao Châu rồi lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên. Về sau, Lý Phật Tử trung hưng nhà Lý (tức Hậu Lý Nam Đế), giao dân x. Tử Đường trùng tu cung thất xưa của Lý Bí làm nơi thờ cúng. Năm Thành Thái thứ 6 (1894), tu sửa lại hai dãy hành cung.

Toàn thư (NK4,14b); Bắc Kỳ giang sơn cổ tích danh thắng bị khảo (VHv.2372,13a); Đồng Khánh địa dư chí lược; (A.537/12,86b), Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/16,93); (Q4 0 .18/VIII,11), Thái Bình địa dư kí (A.500).

4015. Tiền Phong

Phường thuộc tp. Thái Bình. Thành lập ngày 12-4-2002, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số x. Tiền Phong, chia làm 25 tổ dân phố tính từ tổ 1 đến tổ 25.  Trước khi thành lập phường, x. Tiền Phong có 2 thôn Đoan Túc và Nhân Thanh. Đất Đoan Túc và Nhân Thanh có từ rất sớm. Lý Thiên Bảo, Lý Triêu Long, tướng của vua triều Lý Nam Đế đã đóng quân ở đây. Đoan Túc thờ tướng của Ngô Quyền và có bài ca về thế đất của Cao Biền (tk. IX). Diện tích tự nhiên 311 ha. Dân số 11.397 nhân khẩu, gồm 2996 hộ.

Hiện chỉ có 53ha cấy lúa, còn là đất thổ cư, đất chuyên dùng; đang chuyển dần từ một phường nông nghiệp sang công nghiệp. Trên địa bàn phường có 2 khu công nghiệp: Nguyễn Đức Cảnh và Phong Phú và 102 cơ quan. Luỹ tre làng đã được thay thế dần bằng các bờ tường gạch, các nhà mái bằng, nhà tầng. Đường làng được mở rộng và đang từng bước thành phố hóa.

Nhân dân Tiền Phong có truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh chống xâm lược. Vào cuối tk. XX khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai (1884) và hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi (1885), nhân dân Đoan Túc lúc bấy giờ đã theo Lãnh Bí chống Pháp, gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Tháng 8-1945 nhân dân Đoan Túc và cả tg Tri Lai đã là những người đầu tiên vào giành chính quyền ở thị xã. Xã cũ Tiền Phong gắn với sự tích lịch sử từ ngày ấy. Có 77 liệt sĩ, 145 thương binh, 1 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 Anh hùng LLVTND.

4016. Tiền Phong 1

Kè lát mái, tại km 23+170 đến km 23+ 255, đê hữu Trà Lý, ph. Tiền Phong, tp. Thái Bình. Xây dựng năm 1996, bằng đá hộc, xếp khan mái, thả rồng giữ chân, dài 85m, cao trình đỉnh (+ 3.00), chân (-4.40). Năm 2004 đầu tư sửa chữa lớn và nâng cấp. Chất lượng tốt.

4017. Tiền Phong 2

Kè lát mái, tại km24+500 đến km 24+ 900, đê hữu Trà Lý, ph. Tiền Phong, tp. Thái Bình. Xây dựng năm 1996, bằng đá hộc, xếp khan mái, thả rồng giữ chân. Chiều dài 400m, cao trình đỉnh (+3.00), chân (-5.00), không có bãi, mái dốc, thường bị xô tụt đá. Chất lượng kém.

4018. Tiến Đức

Xã thuộc h. Hưng Hà - Đơn vị Anh hùng LLVTND chống Pháp (tuyên dương ngày 10-4-2004). Thành lập ngày 23-2-1977 trên cơ sở "hợp nhất x. Tiến Dũng và x. Hoàng Đức thành một xã lấy tên Tiến Đức"; có các thôn: Đo Đạo, Dương Xá, Đoan Bản, Nhật Tảo, Tam Đường, Tây Nha, Trung Thượng, Phú Vật. Sau nhiều năm điều hành theo đội sản xuất và thôn xóm. Năm 2003, tổ chức lại 8 thôn như trước năm 1955. Diện tích tự nhiên 702,87 ha. Dân số 8922 nhân khẩu, gồm 2156 hộ. Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông. Có nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm.

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

Back To Top